image banner
51 năm thống nhất đất nước: 51 năm kiến tạo tầm vóc Việt Nam
Sau 51 năm thống nhất đất nước, non sông liền một dải, Việt Nam đã vươn lên mạnh mẽ, đạt nhiều thành tựu toàn diện về kinh tế, xã hội, đối ngoại; ngày càng khẳng định vị thế, uy tín trên trường quốc tế.

Một góc Thành phố Hồ Chí Minh phát triển hiện đại. (Ảnh: Hồng Đạt/TTXVN)

51 năm sau ngày non sông liền một dải, Việt Nam đã vươn lên mạnh mẽ, định hình vị thế của một quốc gia đang phát triển năng động, hội nhập quốc tế sâu rộng. Những thành tựu to lớn, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực chính là kết tinh của ý chí tự cường, của đoàn kết, tư duy đổi mới và khát vọng vươn lên không ngừng của cả dân tộc Việt Nam.

Kinh tế tăng trưởng ổn định, không ngừng mở rộng quy mô

Sau ngày thống nhất, đất nước đối mặt với muôn vàn khó khăn: cơ sở hạ tầng bị tàn phá nặng nề, kinh tế kiệt quệ, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn. Nhưng từ trong gian khó, Việt Nam đã lựa chọn con đường: hòa hợp, đoàn kết, tự lực tự cường và khát vọng vươn lên.

Năm 1986, Đảng chủ trương tiến hành đổi mới. Đây là một quyết định mang tính lịch sử, mở ra không gian phát triển mới cho nền kinh tế. Việt Nam từng bước chuyển mình từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giải phóng sức sản xuất và khơi thông các nguồn lực.

Từ đó, nền kinh tế có những bước tiến vượt bậc, từng bước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu và vươn lên mạnh mẽ.

Chế biến thủy sản xuất khẩu. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)

Quy mô GDP từ chưa đầy 2 tỷ USD vào giữa thập niên 1980, đến nay đã đạt hơn 514 tỷ USD, xếp thứ 32 thế giới. GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD, gấp hơn 1,4 lần năm 2020, đưa Việt Nam vào nhóm nước có thu nhập trung bình cao.

Trong nhiều năm liên tiếp, Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng GDP ổn định ở mức trung bình 6-7%/năm, bất chấp những biến động lớn của kinh tế toàn cầu.

Ngay cả trong những giai đoạn thử thách như cuộc khủng hoảng tài chính 2008 hay đại dịch COVID-19, nền kinh tế Việt Nam vẫn chứng tỏ khả năng phục hồi nhanh chóng. Năm 2025, GDP tăng 8,02%, thuộc nhóm các nước tăng trưởng cao của khu vực, thế giới.

Việt Nam đã trở thành một quốc gia xuất khẩu quan trọng với tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu năm 2025 đạt mức kỷ lục - trên 930 tỷ USD, xuất siêu 20,03 tỷ USD, đánh dấu năm thứ mười xuất siêu liên tiếp.

Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực như dệt may, điện tử, nông sản... không chỉ giúp nâng cao vị thế quốc gia trên thị trường quốc tế mà còn tạo việc làm cho hàng triệu lao động.

Việt Nam cũng trở thành điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Tính đến ngày 31/12/2025, cả nước có 45.416 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký khoảng 529,6 tỷ USD.

Sản xuất sản phẩm đồ chơi trẻ em xuất khẩu sang thị trường Mỹ, Pháp, Chile của Công ty TNHH Chế xuất Billion Max Việt Nam, 100% vốn Hong Kong (Trung Quốc). (Ảnh: Phạm Hậu/TTXVN)

Vốn thực hiện lũy kế của các dự án đầu tư nước ngoài ước đạt 350,22 tỷ USD, bằng khoảng 66,1% tổng vốn đầu tư đăng ký còn hiệu lực. Những con số ấn tượng này cho thấy niềm tin của cộng đồng quốc tế vào môi trường đầu tư ổn định, minh bạch và triển vọng phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam.

Đặc biệt, du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp đáng kể vào GDP và tạo việc làm cho hàng triệu lao động. Việt Nam đang trở thành điểm đến ngày càng được ưa chuộng trên bản đồ du lịch thế giới với tổng lượng khách quốc tế năm 2025 đạt 21,2 triệu lượt, tăng hơn 20% so với năm 2024.

Hạ tầng phát triển đồng bộ, tạo nền tảng cho tăng trưởng dài hạn

Hơn năm thập kỷ sau ngày đất nước thống nhất, diện mạo hạ tầng Việt Nam đã thay đổi mạnh mẽ, toàn diện. Trong đó, giao thông có sự thay đổi rõ nét nhất. Từ những con đường đất sỏi, những chiếc cầu khỉ chông chênh, đến nay, Việt Nam đã có hệ thống giao thông hiện đại kết nối xuyên suốt ba miền.

Đến hết năm 2025, cả nước đã hoàn thành và đưa vào khai thác 3.345km đường bộ cao tốc và 1.711km đường bộ ven biển.

Cầu Nhật Tân. (Ảnh: Huy Hùng/TTXVN)

Những cây cầu hiện đại như: cầu Nhật Tân, cầu Cần Thơ, cầu Mỹ Thuận, cầu Vĩnh Tuy... không chỉ giúp việc đi lại, giao thương thuận lợi hơn mà còn là biểu tượng của sự phát triển vượt bậc của hạ tầng giao thông Việt Nam.

Cùng với các tuyến đường, các sân bay quốc tế như Nội Bài, Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng cũng được mở rộng, nâng cấp. Dự án sân bay Long Thành - một trong những sân bay lớn nhất Đông Nam Á (dự kiến khai thác vào cuối năm 2026) - được kỳ vọng trở thành trung tâm trung chuyển hàng không quan trọng trong khu vực...

Bên cạnh đó, việc đưa vào khai thác hệ thống tàu điện đô thị tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh (các tuyến Cát Linh-Hà Đông; Nhổn-Ga Hà Nội; Bến Thành-Suối Tiên) đã mở ra một chương mới trong việc phát triển giao thông công cộng, góp phần giảm tải áp lực lên hệ thống đường bộ và cải thiện chất lượng sống đô thị.

Các tàu đường sắt trên cao tuyến Cầu Giấy-Nhổn luôn đúng giờ, thuận tiện cho người dân sử dụng. (Ảnh: Hoàng Hiếu/TTXVN)

Không chỉ phát triển hạ tầng giao thông, Việt Nam còn có sự chuyển mình mạnh mẽ của các đô thị lớn. Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và nhiều thành phố khác đang “khoác” lên mình diện mạo hiện đại với những khu đô thị mới, các tòa nhà cao tầng, trung tâm thương mại sầm uất.

Những bước nhảy vọt trong phát triển hạ tầng đã tạo nên diện mạo mới cho đất nước, giúp Việt Nam không chỉ rút ngắn khoảng cách với các nền kinh tế phát triển mà còn đặt nền móng vững chắc cho một giai đoạn tăng trưởng bền vững, hiện đại và thân thiện với môi trường.

An sinh xã hội được bảo đảm, chất lượng cuộc sống người dân không ngừng nâng cao

Song hành với tăng trưởng kinh tế, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ vượt bậc trong phát triển con người và đảm bảo an sinh xã hội. Các chính sách của Đảng và Nhà nước đã giúp nâng cao chất lượng cuộc sống, đảm bảo công bằng và tạo cơ hội phát triển cho mọi tầng lớp nhân dân.

Việt Nam đã thực hiện thành công các chương trình giảm nghèo bền vững, đưa tỷ lệ nghèo đa chiều (gồm tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo) xuống còn 2,95% vào năm 2025. Đây là kết quả của hàng loạt chính sách hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo, tạo sinh kế bền vững và nâng cao thu nhập cho người dân.

Cùng với đó, hệ thống bảo hiểm xã hội, chế độ chính sách hỗ trợ người khuyết tật, phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi cũng được triển khai mạnh mẽ, góp phần tạo ra một xã hội công bằng hơn, với những cơ hội phát triển cho tất cả mọi người.

Ngôi nhà mới khang trang của gia đình anh Dương Hải Nam, dân tộc Dao, thôn Khuôn Điển, xã Tân Trào (Tuyên Quang). (Ảnh: Hoàng Hải/TTXVN)

Đặc biệt, năm 2025 đã hoàn thành sớm chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát và phát triển nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp, giúp hàng triệu người có chỗ ở ổn định, vươn lên thoát nghèo.

Xác định giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước đã triển khai nhiều chính sách cải cách, đầu tư vào giáo dục, đảm bảo mọi trẻ em, mọi người đều có cơ hội học tập.

Học sinh từ mầm non đến hết trung học phổ thông công lập được miễn toàn bộ học phí. Đầu tư vào giáo dục đại học và đào tạo nghề cũng được tăng cường nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế số. Nhờ những nỗ lực này, học sinh, sinh viên Việt Nam liên tục giành nhiều giải thưởng trong các cuộc thi khoa học và sáng tạo toàn cầu.

Lĩnh vực y tế cũng đạt nhiều thành tựu. Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng đã giảm mạnh, tuổi thọ trung bình của người Việt Nam tăng đáng kể. Hệ thống bảo hiểm y tế toàn dân ngày càng được mở rộng, với hơn 95,2% dân số tham gia.

Việt Nam đã làm chủ những kỹ thuật y khoa tiên tiến như ghép tạng, điều trị ung thư bằng liệu pháp miễn dịch, phẫu thuật nội soi từ xa... Những tiến bộ này không chỉ giúp cứu chữa cho hàng triệu bệnh nhân mà còn giúp y tế Việt Nam tiệm cận với trình độ y học khu vực và thế giới.

Việt Nam cũng đạt bước tiến rõ rệt trong bảo đảm quyền và nâng cao vị thế của phụ nữ và trẻ em. Phụ nữ ngày càng tham gia sâu vào các lĩnh vực kinh tế, chính trị, khoa học-công nghệ, trong khi quyền trẻ em được bảo vệ tốt hơn, đặc biệt trong tiếp cận giáo dục và môi trường sống an toàn.

Những thành tựu trong giảm nghèo, y tế, giáo dục và bảo đảm quyền lợi cho các nhóm yếu thế là minh chứng cho sự nỗ lực không ngừng của Việt Nam trong việc xây dựng một xã hội phát triển toàn diện, nhân văn và bền vững.

Văn hóa, khoa học công nghệ và chuyển đổi số - động lực phát triển bền vững

51 năm sau ngày đất nước thống nhất, văn hóa và khoa học công nghệ (khoa học công nghệ) đã trở thành hai trụ cột quan trọng góp phần xây dựng và khẳng định vị thế Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và phát triển.

Trong lĩnh vực văn hóa, Việt Nam đã đạt được những thành tựu nổi bật trong việc gìn giữ và phát huy các giá trị truyền thống. Nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể như đền chùa, lễ hội dân gian, hát quan họ, ca trù, cải lương, múa rối nước... đã được bảo tồn, phục dựng và quảng bá rộng rãi.

Không ít di sản đã được UNESCO công nhận, góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng và trở thành nguồn lực phát triển du lịch bền vững.

Ông Jonathan Baker, Trưởng Đại diện UNESCO tại Việt Nam (bên phải) trao Bằng UNESCO ghi danh Quần thể Di tích và Danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc là Di sản văn hóa thế giới cho ông Tạ Quang Đông, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. (Ảnh: Đức Hiếu/TTXVN)

Bên cạnh đó, các ngành công nghiệp văn hóa như điện ảnh, âm nhạc, thời trang... cũng không ngừng đổi mới và vươn tầm quốc tế, với nhiều tác phẩm đoạt giải lớn và mang đậm bản sắc Việt Nam.

Những chương trình nghệ thuật như Lễ hội Áo dài, Liên hoan phim Việt Nam, các cuộc thi âm nhạc đã trở thành cầu nối giữa truyền thống và hiện đại, góp phần định hình bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ hội nhập.

Song hành với văn hóa, khoa học công nghệ và chuyển đổi số cũng có những bước tiến vượt bậc, trở thành động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển của đất nước. Từ những năm đầu sau giải phóng, khoa học công nghệ chủ yếu phục vụ công cuộc tái thiết và phát triển nông nghiệp.

Đến nay, Việt Nam đã xây dựng được nền tảng khoa học công nghệ cơ bản và đạt được nhiều thành tựu trong các lĩnh vực, như công nghệ thông tin, điện tử, viễn thông. Nhiều doanh nghiệp công nghệ lớn như FPT, Viettel, VNPT, VNG... đã vươn ra thị trường quốc tế, góp phần khẳng định vị thế công nghiệp số của Việt Nam trên bản đồ khu vực và toàn cầu.

Nhân viên của Halotel (thương hiệu viễn thông của Viettel tại Tanzania mang sản phẩm, dịch vụ tới người dân. (Ảnh: Trung Hiền/Vietnam+)

Đặc biệt, chuyển đổi số trở thành xu hướng tất yếu và là một trong những ưu tiên hàng đầu của Chính phủ trong chiến lược phát triển quốc gia. Công nghệ số được ứng dụng sâu rộng trong các lĩnh vực kinh tế-xã hội, từ sản xuất, y tế, giáo dục đến hành chính công, giúp tối ưu hóa quy trình, nâng cao hiệu quả và minh bạch trong quản lý

Việc Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia và Trung tâm Dữ liệu quốc gia đi vào hoạt động thể hiện cách tiếp cận mới trong tổ chức, huy động, điều phối nguồn lực đổi mới sáng tạo ở tầm quốc gia; đồng thời hình thành một số tổ chức khoa học công nghệ đạt chuẩn quốc tế và thúc đẩy các dự án, hợp tác trong lĩnh vực công nghệ mới, công nghệ lõi.

Trên các bảng xếp hạng quốc tế, Việt Nam tiếp tục cải thiện vị thế: xếp thứ 55 thế giới về Chỉ số hệ sinh thái khởi nghiệp toàn cầu (tăng 2 bậc), xếp thứ 6/40 quốc gia về Chỉ số AI Thế giới; chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2025 của Việt Nam xếp hạng 44/139 quốc gia, vùng lãnh thổ.

Khẳng định vị thế trên trường quốc tế

51 năm sau ngày đất nước thống nhất, Việt Nam đã vươn lên mạnh mẽ, trở thành quốc gia có uy tín cao trên trường quốc tế. Quan hệ đối ngoại không ngừng mở rộng và đi vào chiều sâu.

Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia trên thế giới, bao gồm 193/193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc.

Đồng thời, Việt Nam duy trì quan hệ thương mại với hơn 200 quốc gia, ký kết trên 100 hiệp định thương mại, trong đó có CPTPP, EVFTA, RCEP, góp phần thúc đẩy tăng trưởng đẩy mạnh xuất nhập khẩu và thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).

Việt Nam tái đắc cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2026-2028. (Ảnh: Thanh Tuấn/TTXVN)

Trên bình diện đa phương, Việt Nam hiện là thành viên của hơn 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng, như Liên hợp quốc, ASEAN, APEC và WTO...

Việc tham gia vào các tổ chức này không chỉ giúp Việt Nam tiếp cận với các chuẩn mực quốc tế mà còn tạo điều kiện để Việt Nam đóng góp vào việc định hình các chính sách toàn cầu, đặc biệt là trong các lĩnh vực như hòa bình, an ninh, phát triển bền vững, và biến đổi khí hậu. Qua đó, từng bước tạo dựng nên hình ảnh một quốc gia chủ động, tích cực và có trách nhiệm cao trong cộng đồng quốc tế.

Những thành công nổi bật trong việc tổ chức các hội nghị quốc tế lớn như APEC, ASEM và hoàn thành nhiều trọng trách quốc tế quan trọng như Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Chủ tịch luân phiên ASEAN, chủ nhà Hội nghị cấp cao ASEM, Hội nghị thượng đỉnh APEC, Diễn đàn Kinh tế Thế giới về ASEAN... đã chứng minh cho vai trò chủ động, tích cực, có trách nhiệm của Việt Nam đối với các vấn đề chung của khu vực và thế giới; đồng thời khẳng định vị thế, uy tín ngày càng được nâng cao của Việt Nam trên trường quốc tế.

Hơn nửa thế kỷ kể từ ngày đất nước thống nhất, Việt Nam đã đi một chặng đường dài từ tái thiết đến phát triển và hội nhập. Những thành tựu toàn diện hôm nay không chỉ là kết quả của quá khứ kiên cường mà còn là nền tảng cho tương lai bền vững.

Với nội lực được củng cố, niềm tin được vun đắp và khát vọng phát triển ngày càng mạnh mẽ, Việt Nam đang vững vàng bước vào giai đoạn mới - giai đoạn khẳng định tầm vóc và đóng góp tích cực hơn cho khu vực và thế giới./.

THEO TTXVN

 

Tin nổi bật
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement

image advertisement

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1

CƠ QUAN CHỦ QUẢN: UBND Xã Thọ Xuân
Địa chỉ: UBND Xã Thọ Xuân
Email: thoxuan@thanhhoa.gov.vm
Trưởng Ban biên tập: Bà:  Mai Thị Mùi      Chức vụ:  Phó Chủ tịch UBND Xã Thọ Xuân
Ghi rõ nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Thanh Hóa xã Thọ Xuân hoặc thoxuan.thanhhoa.gov.vn khi bạn phát hành lại thông tin từ Website này.

Website được thiết kế bởi VNPT